BÀI HỌC TỪ CUỘC NỘI CHIẾN HOA KỲ
 
 
       Một người tị nạn Việt Nam đến Hoa Kỳ được bảo trợ về miền Nam tiểu bang Virginia, tình cờ tìm hiểu về cuộc nội chiến gần 150 năm về trước có thể chợt thấy một vài thời điểm tương đồng với chuyện quê hương.

      Tháng 4 của Hoa Kỳ cũng là một ngày tháng đáng lư ý của lịch sử.

      Cuộc nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 12 tháng 4-1861. Bốn năm sau vào ngày 9 tháng 4-1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc.

      Cuộc chiến tranh với hàng trăm trận đánh tại miền Ðông Hoa Kỳ trong trọn vẹn 4 năm đã làm cho quân hai bên chết 620 ngàn và hàng triệu người bị thương tích. Miền Bắc thắng trận, thống nhất đất nước, giải phóng nô lệ và hy sinh thêm vị anh hùng Mỹ quốc. Ðó là Tổng Thống Lincoln.

      Trong trận đánh cuối cùng, quân miền Bắc chiếm được Richmond là thủ đô của miền Nam vào ngày 2 tháng 4-1865. Hai ngày sau Tổng Thống Lincoln của Hoa Thịnh Ðốn đến thị sát Richmond, bước vào dinh tổng thống miền Nam đã bỏ chạy. Tiếp theo là Tướng Lee đầu hàng ngày 9 tháng 4 và vào ngày 15 tháng 4-1865, Tổng Thống Lincoln bị ám sát chết.

      Vị tổng thống thứ 16 trở thành vĩ nhân thống nhất đất nước và giải phóng nô lệ nhưng chỉ vui với chiến thắng chưa được một tuần lễ.

      Ða số thính giả và độc giả của chúng tôi đã mang quốc tịch Mỹ nhưng vẫn nhớ về quốc tổ, về Trưng Nữ Vương và các anh hùng dân tộc Việt Nam. Có lẽ sau 30 năm tỵ nạn, di dân Lạc Hồng tại Hoa Kỳ dù mang quốc tịch Mỹ, chúng ta cũng cần biết thêm chút lịch sử của Hiệp Chủng Quốc với các dữ kiện căn bản của chương trình trung học.

      Số là sau chiến tranh dành độc lập, mười ba xứ thuộc địa Bắc Mỹ thắng Anh quốc trở thành Hoa Kỳ với tổng thống Washington thì tiếp theo đến trận nội chiến chia đôi Nam Bắc là một vết thương đau đớn nhất.

      Vào thời kỳ đó, nước Mỹ gồm các tiểu bang Ðông Bắc có thủ đô Hoa Thịnh Ðốn chủ trương giải phóng nô lệ. Tổng thống Hoa Kỳ là Luật Sư Lincoln tuyên bố quốc gia không thể có hai luật, một nửa có nô lệ, một nửa không.

      Quân chính phủ miền Bắc gọi là quân đội Potomac,lấy tên của dòng sông diễm lệ chạy qua thủ đô. Các tiểu bang miền Nam sống về canh nông quyết đòi giữ lại chế độ nô lệ để khai thác cho
nông nghiệp. Tổng thống miền Nam là ông Davis. Thủ đô là Richmond và quân đội do tướng Lee chỉ huy được gọi là quân đội Virginia.

      Nội chiến xảy ra trong hai nhiệm kỳ của ông Lincoln từ 1861 đến 1865 với hai vị tướng chỉ huy sau cùng là Tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc và Tướng Robert E. Lee của miền Nam. Tuy miền Nam với các tiểu bang ly khai bầu ra một Tổng Thống Jefferson Davis nhưng nhân vật anh hùng miền Nam chính là Tướng Lee.

      Khi cuộc chiến Nam Bắc bùng nổ, nước Mỹ chia đôi.Mười một tiểu bang miền Nam ly khai với 9 triệu dân và thêm 4 triệu dân nô lệ da đen. Chính phủ liên bang Hoa Kỳ còn lại 21 tiểu bang miền Bắc với 20 triệu dân.

      Ông Robert Lee nguyên là tướng lãnh của quân đội liên bang Hoa Kỳ nhưng gốc người miền Nam. Ông đã từng là chỉ huy trưởng trường West Point.

      Tháng 4-1861 khởi chiến Nam Bắc, Tướng Lee được đề nghị chỉ huy quân đội miền Bắc nhưng ông không nhận và xin từ nhiệm để về đầu quân miền Nam tại Richmond, tiểu bang Virginia. Ông nói là không thể quay lưng với nơi ông đã sinh ra và trưởng thành.

      Trong chiến tranh, ông lập được nhiều chiến công và là vị tư lệnh sau cùng của miền Nam nhưng sau khi thủ đô Richmond của miền Nam bị thất thủ, ông đã quyết định đầu hàng.

      Cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu làm tổn hại hàng triệu sinh linh Hoa Kỳ, tan nát các đô thị miền Ðông và vùng Virginia. Tất cả đã thể hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ Cuốn Theo Chiều Gió mà chúng ta đã đọc cũng như coi nhiều lần suốt thời niên thiếu.

      Ngay cho đến bây giờ, tác phẩm này vẫn còn là tài liệu được đem dạy ở trường học với sự say mê và hãnh diện của nhiều thế hệ Hoa Kỳ.

      Ðó là những bài học gì mà chiến tranh, giết người, đốt nhà, nồi da nấu thịt đã đem lại cho thế hệ nối tiếp. Chúng tôi xin duyệt lại cùng quý vị câu chuyện hậu chiến Hoa Kỳ để so sánh với bài học chiến tranh Việt Nam.

      Trước tiên bắt đầu về câu chuyện đầu hàng. Sau chiến tranh, nước Mỹ sưu tầm và dựng lên khắp miền Ðông hàng trăm viện bảo tàng. Mỗi tiểu bang ít nhất là một viện bảo tàng. Mỗi trận đánh trên chiến trường xưa cũ với các di tích đều có một viện bảo tàng.

      Bằng hội họa, nhiếp ảnh, dữ kiện, thêm vào âm thanh ánh sáng người ta dựng lại lịch sử các cuộc thương thuyết, các cuộc điều binh và các trận liệt. Quân đội hai bên Nam Bắc, quân phục màu xanh, quân phục màu xám, các tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ và dân chúng. Những cái chết đau thương và anh hùng của cả hai bên, những mối tình bất hủ, tràn đầy hình ảnh em hậu phương, anh tiền tuyến.

      Không phải hàng trăm mà có đến hàng ngàn tác phẩm điện ảnh về chiến tranh Nam Bắc. Cả những phim vĩ đại mới ra đời tron vài năm gần đây vẫn còn hình ảnh của cuộc nội chiến ngày xưa.

      Cuộc nội chiến đau thương xưa cũ đã là niềm cảm hứng cho tinh thần nhân bản xây dựng trên tro tàn của một thời nội chiến Hoa Kỳ.


      Xin nhắc lại một lần nữa, bài học phải bắt đầu từ câu chuyện đầu hàng.

      Ðúng như vậy, trong hàng trăm bảo tàng viện về Civil War của Hoa Kỳ, thì viện bảo tàng Appomattox Court House ở Virginia là nơi nổi tiếng nhất vì dựng lên ngay tại một ngôi nhà mà Tướng Lee đã đến ký văn bản đầu hàng ngày 9 tháng 4-1865.

      Tại đây, câu chuyện về vị tướng phe bại trận miền Nam lại được viết ra và hình ảnh của ông lại được chiêm ngưỡng nhiều hơn cả phe thắng trận.

      Lịch sử ghi lại rằng vào sáng ngày 9 tháng 4 cách đây 140 năm, thủ đô miền Nam là Richmond thất thủ, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui.

      Bộ tham mưu của Tướng Lee đề nghị phân tán để giữ lực lượng đánh du kích, nhưng Tướng Lee quyết định đầu hàng. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải qua bao nhiêu chiến thắng nhưng sau cùng vì quân số và tiếp vận bị giới hạn nên đành bất lực chấp nhận thua cuộc. Với lá thư riêng ông gửi cho Tướng Grant của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.

      Ông Grant nhận được thư hết sức vui mừng và bỗng nhiên thấy hết ngay cơn bệnh nhức đầu ghê gớm hành hạ ông từ nhiều ngày qua.

      Vị tư lệnh miền Bắc ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh miền Nam bại trận.

      Trưa ngày lịch sử 9 tháng 4-1865, Tướng Lee và một đại tá tùy tùng cưỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến nơi hẹn ước. Hình ảnh ghi lại hai người đi qua đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón. Các sĩ quan miền Bắc đưa vị tư lệnh miền Nam vào phòng họp. Nửa giờ sau Tướng Grant và đoàn tùy tùng miền Bắc đến.

      Cả hai vị tư lệnh đã biết nhau trong cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ. Họ đã nhắc lại một thời bên nhau trong quá khứ. Tướng Grant sau này thú nhận là ông rất ngần ngại và thực sự hổ thẹn khi phải hỏi Tướng Lee nói về quyết định đầu hàng.

      Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Không phải ngựa của chính phủ cấp như lính miền Bắc.

      Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà mà xây dựng lại nông trại.

      Sau này khi viết về văn bản đầu hàng, lịch sử ghi rằng đây là thỏa hiệp của những người quân tử (The Gentlemen's Agreement). Trên các bảo tàng viện và đặc biệt là bảo tàng viện ở Appomattox Virginia có tranh sơn dầu hình Tướng Lee hiên ngang quắc thước trong bộ quân phục
xanh dương, tóc và râu bạc, thể hiện hình ảnh người Mỹ anh hùng không bị khuất phục dù thua
trận. Toàn thể nước Mỹ hiểu rằng khi một người Mỹ bị nhục, thì dù là Mỹ miền Nam hay Mỹ miền Bắc cũng vẫn là một người Mỹ bị sỉ nhục.

      Thực vậy, 140 năm sau, chúng tôi đi thăm viện bảo tàng đầu hàng, cô Mary quản thủ cơ sở đã nói rằng dù hình ảnh của miền Nam hay miền Bắc, lịch sử không muốn ghi lại các hình ảnh xấu xa của bất cứ phe nào.

      Ở đây là nơi lưu giữ hình ảnh của các anh hùng miền Nam lẫn miền Bắc. Ðặc biệt là hình ảnh của phe bại trận lại được lưu ý hơn cả phe chiến thắng. Lá cờ rách của miền Nam thua trận treo tại thủ đô Richmond bây giờ lại là bảo vật hào hùng của bảo tàng viện đầu hàng.

      Và hình Tướng Lee cưỡi ngựa đi đến nơi họp mặt với đoàn quân nhạc miền Bắc chào đón. Hình Tướng Lee ký tên xong ra đi được sĩ quan và binh sĩ miền Bắc tiễn đưa và vẫy tay chào.

      Bây giờ hình tượng của tướng Lee tràn ngập ở miền Nam Virginia. Câu lạc bộ Lee, bảo tàng viện Lee, Lee High Way, Fort Lee và các đồn trại của quân đội liên bang mang tên vị tướng thua trận như là một biểu tượng anh hùng. Bởi vì người Mỹ đã thấm nhuần bài học rất Hoa Kỳ. Bài học của người lính dũng cảm cả hai phe trong chiến tranh và người quân tử của thời hậu chiến.

      Trong cuộc nội chiến tại nước Mỹ vào thế kỷ 19, sau cùng được thua thì cũng vẫn là nước Mỹ và người Mỹ.

      Lịch sử của Hoa Kỳ quá ngắn ngủi và đạo lý của người dân tứ chiếng như Hiệp Chủng Quốc thì vốn không thể nào sánh với lịch sử và truyền thống đặc biệt của người Việt Nam. Nhưng sao mà di sản tinh thần của cuộc nội chiến Việt Nam để lại không đẹp đẽ chút nào. Những chiến binh anh hùng và đẹp đẽ nhất của miền Nam phải tập trung vào các trại khổ sai. Vợ con bị xua đuổi lên rừng làm kinh tế mới. Cả miền Nam bị làm nhục.

      Ðã vậy, câu chuyện vẫn chưa xong. Qua bài học thứ hai, chúng tôi xin kể thêm về vấn đề nghĩa trang và mộ phần của các liệt sĩ phe chiến bại tại Hoa Kỳ.

      Tại nước Mỹ có một nghĩa trang quốc gia nổi tiếng khắp thế giới. Ðó là nghĩa trang Arlington. Ðây là nghĩa trang chính thức của liên bang Hoa Kỳ, của người miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam.

      Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng ngàn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận và trên đó luôn luôn có lá cờ gạch chéo đã một thời tung hoành trên chiến trường.

      Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, không có cải tạo tập trung, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

      Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là Confederate Memorial.

      Cũng phải nói rằng, thực sự sau nội chiến, dư vị cay đắng giữa Nam Bắc Hoa Kỳ vẫn còn nhiều. Dễ gì mà trút bỏ hận thù ngay sau khi hai bên chết cả gần một triệu người mà một số lớn đã giết nhau khi giáp mặt bằng gươm dao. Hai phe cùng đốt nhà của nhau và cùng tàn phá đô thị và
nông trại, đôi khi có cả những hành động dã man như hãm hiếp phụ nữ và tàn sát trẻ em. Cuộc
chiến nào mà không có những lần quá độ.

      Năm 1900 tức là gần 40 năm sau cuộc chiến, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1991 thì các liệt sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện.

      Trên đỉnh của chân bệ hình vòng cung như nóc Tòa Quốc Hội là hình tượng cao 32 feet của một thiếu phụ tượng trưng cho miền Nam. Ðây là hình ảnh bà mẹ của phe bại trận đã có con trai hy sinh cho cuộc chiến. Phía dưới là bài thơ đại ý như sau:

      "Ở đây chẳng có vinh quang hay tưởng lệ.
      Ở đây chẳng phải binh đoàn hay cấp bậc.
      Ở đây chẳng có tham vọng hay mưu cầu.
      Ở đây chỉ đơn thuần là nhiệm vụ.
      Những người nằm ở đây đã hiểu rõ
      là họ trải qua gian khổ, đã hy sinh
      đã liều thân và sau cùng đã chết."

      Ðó là câu chuyện về các tử sĩ của phe thua trận tại Hoa Kỳ.

      Cũng chẳng khác gì vần thơ bất hủ của Thanh Nam dành cho Nghĩa Trang Quân Ðội miền Nam tại Biên Hòa.

      ... Ta như người lính vừa thua trận
      Nằm giữa sa trường nát gió mưa
      Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
      Làm thân cây cỏ gục ven bờ
      Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
      Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa...



      Vậy thì câu chuyện mộ phần của phe thua trận của Việt Nam thì ra sao ? Chuyện Nghĩa Trang Quân Ðội VNCH tại Biên Hòa mà chúng tôi đã có dịp giãi bày.

      Chúng tôi có một ông bạn làm thông dịch viên cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vẫn có dịp hướng dẫn cho các nhân viên cao cấp của Hà Nội đến Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Tôi vẫn thường bảo rằng ông nên dẫn khách lúc rảnh rỗi đi thăm bảo tàng viện "Ðầu hàng" và nghĩa trang phe thua trận ở Arlington.

      Nơi đó thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.

      Xem lại lịch sử, chiến cuộc Nam Bắc Hoa Kỳ trong 4 năm rất khốc liệt, máu lửa và ghê gớm vô cùng.

      Trong một thời gian ngắn các trận đánh dồn dập, các đô thị bốc cháy lửa cao ngút trời. Cũng tản cư, cũng loạn lạc và chiến tranh để lại các cánh đồng toàn xác chết trong các trận giáp lá cà, đâm chém nhau mặt đối mặt.

      Nhưng rồi vết thương nào cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt để chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng. Phải chi những tướng lãnh vị quốc vong thân của Việt Nam như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai của quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà hành xử như thế trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ thì sẽ được phe thù nghịch tại Hoa Thịnh Ðốn tôn vinh biết chừng nào.

      Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo quân tử là phải biết xưng tụng các bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch.

      Chúng tôi viết lại câu chuyện nội chiến Hoa Kỳ để tặng cho nhà cầm quyền Hà Nội, nhân dịp ông thủ tướng Việt Nam đến Hoa Kỳ. Ông có thể nhận được viện trợ của Mỹ từ Bill Gates ở Seattle, của George Bush ở White House nhưng bài học để trở thành con người văn minh ông thủ tướng phải tìm ở nơi khác.

      Ðó là viện bảo tàng đầu hàng và nghĩa trang phe bại trận miền Nam tại Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Nước Mỹ ngày nay còn hùng mạnh bởi vì biết tôn trọng giá trị của phe đối nghịch.

      Sống làm người dù ở hoàn cảnh nào, cũng không bao giờ muộn để học làm người quân tử. Và về phần chúng ta trong những mối đau thương của những người bại trận, niềm đau thương nhất là ta đã bị đánh bại bởi những người không có khả năng quản trị đất nước, và thiếu bản chất quân tử.

      Nhưng ta vẫn còn có thể sẽ đem xuống nấm mồ những ước mơ lạc quan. Trăm năm sau vào một ngày nào đó, các anh hùng của miền Nam sẽ được thế hệ con cháu Việt Nam cải táng vào Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Con cháu người di dân có thể đem hài cốt chiến sĩ VNCH ở bốn phương trời về yên nghỉ với chiến hữu ở quê nhà. Các du khách gốc Việt sẽ xuống thăm Cần Thơ, Dinh Tư Lệnh, Quân đoàn 4 của ông Nguyễn Khoa Nam ngày xưa đã trở thành bảo tàng viện của miền Nam. Du khách sẽ đứng trên cái ban công mà tướng Nam đã đứng lần cuối vào sáng 1 tháng 5-1975, nhìn ra đại lộ Hòa Bình. Người hướng dẫn sẽ chỉ cho khách du lịch nơi ông tướng đã tự vẫn. Trong ngôi nhà này, người ta đã sưu tầm tất cả các vật dụng cũ của người xưa với niềm tôn kính.

      Trước khi chết, Tổng Thống Lincoln đã nói: "Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống."


      Trong trận chiến tranh Nam Bắc Việt Nam, nơi một anh hùng ngã xuống là Cần Thơ. Tên người anh hùng đó là Nguyễn Khoa Nam. Ông là một Tướng Lee của miền Nam Việt Nam, ông là mặt trời tháng 4 của Việt Nam.

      Lịch sử của 70 năm cách mạng của cộng sản miền Bắc Việt Nam không có ai sánh bằng. Với ba tiếng chuông thỉnh Phật và một phát súng vào đầu, Nguyễn Khoa Nam đã thể hiện cái dũng của một thánh nhân. Hành động và tư cách của tướng Nguyễn Khoa Nam đem lại niềm hãnh diện cho người Việt Nam, không phân biệt bạn hay thù, Nam hay Bắc, Quốc hay Cộng. Sau cùng, chỉ đơn giản ông là người Việt Nam không chịu khuất phục.

      Trong thời kỳ nội chiến, Tướng Lee của miền Nam Hoa Kỳ đã may mắn gặp được tướng Grant của miền Bắc. Người đã ngần ngại khi phải hỏi ông Lee về việc đầu hàng. Nhưng cả trăm  tướng tá miền Bắc Việt Nam không có viên tướng nào đóng được vai trò của tướng Grant của Hoa Kỳ.

      Cuộc chiến đã 30 năm qua, mà bây giờ những người Việt Nam chiến thắng vẫn chưa biết cách đối xử tử tế với các tử sĩ miền Nam.

      Ðó thật là điều bất hạnh cho Việt Nam.
 

Một tư liệu lịch sử quý giá                                                           
Lê Quỳnh, BBC Việt ngữ                                                               
                                                      
Từ khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975, ở cả trong và ngoài nước đã có vô vàn tác phẩm viết về nhiều khía cạnh khác nhau của một trong những cuộc chiến tàn khốc nhất thế kỷ 20.  Mỗi nghiên cứu về sau đều hứa hẹn có phát hiện mới lạ, và những tài liệu đươc viết khi tiếng súng vừa tạm ngưng có nguy cơ thành lỗi thời, xưa rích.                                                               
                              
"Việt Nam Quê Mẹ OanKhiên", in lần đầu ở Pháp tháng 11-1975 và bản dịch tiếng Việt chỉ vừa ra mắt cuối năm ngoái, thuộc vào số may mắn hơn, tức là nó vẫn chứng tỏ mình là một tài liệu lịch sử quý giá để người đọc hôm nay hiểu hơn về một thời kỳ quá khứ.  Tác giả của nó, Pierre Darcourt, sinh năm 1926 ở Sài Gòn.                                             
                                  
Theo tiểu sử, ông gia nhập du kích chống Nhật ở Đông Dương sau biến cố tháng Ba 1945; sau đó làm lính nhảy dù Pháp cho đến1954. Ông trở thành phóng viên chiến trường Việt Nam, đi qua nhiều mặt trận, quen biết hầu hết các gương mặt tướng lĩnh và chính khách –  thuộc cả chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và đối lập.                                                       
                                   
Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên (bản dịch của Dương Hiếu Nghĩa) ghi  lại những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa và một vài tháng sau ngày 30-4.                                               
                               
Nhà văn Uyên Thao,  chủ của Tủ sách Tiếng Quê Hương (bang Virginia), nơi ấn hành bản tiếng Việt của tác phẩm, gọi điều "đáng trân trọng" qua cuốn sách này là "tâm tư chia sẻ của tác giả với những thống khổ của đồng loại mà bất kỳ người Việt Nam nào cũng phải ao ước là  sẽ hiện hình trong con tim của hết thẩy những người đang mang dòng máu Việt Nam".                                             
                                  
Binh đao máu lửa  Năm 1969, Tổng thống Nixon loan báo học  thuyết "Việt Nam hóa chiến tranh", và bắt đầu rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nó đánh dấu việc Mỹ từ bỏ mục tiêu buộc Hà Nội công nhận chính thể miền Nam, ngừng đưa quân xâm nhập miền Nam. Trong cuốn The Vietnam War Files (2004), Jeffrey Kimball cho biết trong ghi chép của Henry Kissinger khi chuẩn bị cho cuộc gặp bí mật với Trung Quốc năm 1971, viên cố vấn tổng thống thừa nhận "nếu người Việt Nam quyết định thay đổi chính phủ hiện tại, chúng tôi sẽ chấp nhận điều đó."                                               
                           
Những giờ phút hỗn loạn trong ngày 30-4-1975  Hiệp định Paris tháng Giêng 1973 tạo điều kiện cho Mỹ chứng kiến một "nền hòa bình trong danh dự"  (chữ của Nixon): quân Mỹ rút khỏi Việt Nam,  tù binh Mỹ được trao trả, quân đội hai bên ở nguyên vị trí tại miền Nam.                                                         
                                
Nhưng chiến sự nhanh chóng tái tục, với hàng loạt các trận đánh trong năm 1973.  Tháng 11 năm đó, Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết cấm tổng thống nếu chưa có chấp thuận của Quốc hội thì không được dùng quân Mỹ để phòng thủ "bất cứ phần đất nào  của Đông Dương". Sang năm sau, Nixon mất chức vì vụ Watergate;  Quốc hội Mỹ cũng cắt bớt một nửa viện trợ  quân sự cho miền Nam Việt Nam.                                                         
                                
'Một dân tộc khốn khổ' Pierre Darcourt có mặt ở Sài Gòn những ngày này chứng kiến chính phủ "bước vào một thời kỳ nguy kịch". Mô tả sinh động của tác giả giúp người đọc cảm nhận rõ ràng không khí miền Nam trong giai đoạn khủng hoảng chính trị. Pierre cũng chứng kiến tận mắt những ngày cuối cùng từ sau cuộc tổng tiến công của Bắc Việt năm 1975. Kết luận chua  chát của tác giả -  "Đừng bao giờ tin tưởng vào Hoa Kỳ như một đồng minh" –  chắc sẽ được sự chia sẻ của đa số những ai có mặt ở Sài Gòn trong giờ phút nghiêng ngửa ấy.                                                               
                                
Chương 21, Ông Dương Văn Minh là ai?, là một trong các chương hay nhất của cuốn sách. Tác giả có những nhận xét sắc sảo về sự nghiệp của viên tổng thống cuối cùng của VNCH, một người thực tế "không phải là nhà chính trị". Qua chương này,  người ta cũng hiểu hơn về những rối ren của chính trường miền Nam.                                                                 
                                                                       
Bông hồng ở Đài tưởng niệm Việt Nam ở Mỹ Chiến tranh để lại nhiều vết thương trong lòng người Có mặt tại chỗ trong những ngày khói lửa, Pierre Darcourt viết cảm động về hoàn cảnh bi đát của những đoàn người chạy loạn "bỏ tất cả lại sau lưng, từ làng mạc trù phú đến nhà cửa ruộng vườn, mùa màng, và cả mồ mả ông cha nữa". Những cảnh tượng đau lòng như những hạt cát trong biển máu chiến tranh, để tác giả đặt bút viết: "Một dân tộc khốn khổ bị dày vò, bị bóp họng, bị tàn phá chỉ vì bị xô vào cái bẫy của một tấn tuồng chính trị bi hài ngu xuẩn và khủng khiếp mà chính họ cũng không hề hiểu gì cả."                                       
                        
Một ưu điểm của cuốn sách là sự tái hiện sắc sảo, từ một người cùng thời, về những nhân vật thời cuộc của miền Nam. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ "một đồng mình trung thành và chắc chắn, là thànhlũy cuối cùng chống chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á" trở thành "một người cô đơn,chua chát và thất vọng". Tướng Trần Văn Đôn, "từng cổ võ quân đội phải bảo vệ đất nước đến hơi thở cuối cùng", lại bị bắt gặp trên chuyến bay đi Bangkok cùng một phụ nữ đẹp, người được ông trao cho tấm ngân phiếu "ông ký ngay tại ghế ngồi".  Còn nhiều những chi tiết như thế về một hệ thống đã rệu rã trong giờ phút cuối.                             
                                   
Nhưng đồng thời tác giả cũng bộc lộ cái nhìn thiện cảm với những con người sống chết vì một lý tưởng mà họ tin theo. Một tướng Lê Minh Đảo khẳng khái "binh sĩ của tôi đã dũng cảm chiến đấu, làm sao tôi có thể bỏ rơi họ?" Thiếu tướng Phạm Văn Phú, bị Tổng thống Thiệu đổ trách nhiệm cho việc mất Cao nguyên Trung phần, đã tự sát để "đính chánh lời cáo buộc". Trên hết, tác giả thương cảm cho số phận của một dân tộc, không phân biệt Bắc hay Nam, "bị chia xé với quá nhiều xương máu, tóc tang và đau đớn." Nhận định ở trang cuối của sách, viết ra hơn 30 năm trước, nhưng vẫn còn tính thời sự: "Cách duy nhất để hàn gắn các vết thương còn tuôn máu và nhức nhối này là người chiến thắng phải dẹp bỏ sự tự kiêu chiến thắng để tuyên bố ngưng tranh đua về ý thức hệ và chứng tỏ sự khoan hòa. Cuộc thống nhất thật sự phải trải qua sự hòa bình của những con tim, trở về với truyền thống khôn ngoan và độ lượng từ xa xưa."                                       
                                       
Một tác phẩm ra đời ngay khi các sự kiện lịch sử vừa diễn ra lẽ dĩ nhiên không tránh khỏi thiếu sót. Về thái độ của Liên Xô và Trung Quốc đối với cuộc chiến, tác giả cho rằng "từ năm 1954, Liên Xô đã thúc đẩy Hà Nội mở cuộc tấn công quân sự quy mô và quyết định để chiếm Miền Nam. Ngược lại Bắc Kinh thì lại khuyên Hà Nội chỉ nên tăng cường các khu vực đã giải phóng và tiến hành một cuộc chiến tranh gậm nhắm lâu dài (trường kỳ kháng chiến)" (trang 71). Những tài liệu mới, đặc biệt của Ilya Gaiduk và Qiang Zhai, đã cho phép người ta có cái nhìn đầy đủ hơn về những đồng minh của Bắc Việt.                                                             
                                
Phần cuối của sách viết về mấy tháng đầu tiên sau khi Việt Nam thống nhất. Pierre Darcourt nhận xét: "Miền Bắc có thể đi tới đích mà họ muốn, nhưng còn mất nhiều thời gian…và thời gian đôi khi lại thuận lợi cho kẻ chiến bại". Một nhận xét mà sau 30 năm, người ta thấy chúng mang tính tiên tri.                                               
                                
"Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên", do NXB Tiếng Quê Hương, Virginia, phát hành. Bản dịch tiếng Việt của Dương Hiếu Nghĩa.                                                       
                                                                                                 
Xin mời các Anh Chị thưởng thức một số Clips thật hay, Những Lời Khuyên Nhủ, Dẫn Dắt chúng ta được Sống Toàn Thiện hơn                                                 
                                                                                              
Chúc các Anh Chị Thân Tâm An Lạc.                                                         
                              
   Mai                                                               

   

Trung Trực, do bạn Trần Đình Thọ gửi